Wednesday, November 10, 2010

Đạo đức nghề CNTT: Một học phần bị bỏ quên

Trong khi chương trình đào tạo CNTT ở nhiều nước đều có những học phần về nghề nghiệp CNTT, thì các chương trình tương đương ở nước ta chưa có và chưa coi trọng nội dung quan trọng này.
Dạy nghề, chưa dạy đạo đức làm nghề
Những năm gần đây, chúng ta thấy ngày một nhiều những thông tin về vi phạm bản quyền phần mềm, hacker lộng hành, cá độ bóng đá trên Internet, tung tin thất thiệt trên Internet, đưa lên mạng hình ảnh đồi truỵ, đặc biệt có vụ phải ra tòa và thủ phạm là sinh viên một trường ĐH chuyên ngành CNTT. Những hành vi tội phạm như ăn cắp tiền trên mạng, lừa đảo mua bán trên mạng, phát tán virus... cũng xuất hiện ngày một nhiều.

Trong quá trình hành nghề, nhiều hành vi của một bộ phận trong giới CNTT gây lắm điều phải suy nghĩ. Nhiều hành vi trong kinh doanh, đấu thầu giải pháp công nghệ, thực hiện các dự án CNTT, trong đào tạo, quản lý, chỉ đạo với tư cách là CIO... nếu thật nghiêm khắc để đánh giá thì có những dấu hiệu vi phạm đạo đức nghề nghiệp.

Tình hình nêu trên đặt ra một yêu cầu cho việc đào tạo nhân lực CNTT: ngoài phần kiến thức và kỹ năng còn phải có phần về nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp, nhằm trang bị cho người học những hành trang cần thiết cho quá trình hành nghề, tăng tính trong sáng, minh bạch và bớt đi những hành vi phi đạo đức khi hành nghề.

Trong chương trình đào tạo CNTT ở nước ta nói chung, rất ít trường quan tâm tới vấn đề nghề nghiệp CNTT. Rải rác có trường tổ chức một số buổi để sinh viên làm quen với doanh nghiệp (DN) trong ngành, tuy rất bổ ích nhưng không thể thay thế những môn học có cơ sở lý luận, chưa nói đến những vấn đề có tính triết lý trong nghề nghiệp.

So sánh với nước ngoài
Trong chương trình khung trình độ cao đẳng nghề "Lập trình máy tính" ban hành theo quyết định số 55/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày 23/5/2008 của bộ trưởng bộ Lao Động - Thương Binh và Xã Hội, người được cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề cần "có nhận thức đúng về đường lối xây dựng và phát triển đất nước, hiến pháp và pháp luật, ý thức được trách nhiệm bản thân về lao động, có tác phong vươn lên và tự hoàn thiện, có trách nhiệm, thái độ ứng xử, giải quyết vấn đề nghiệp vụ hợp lý, có lòng yêu nghề, và ý thức đầy đủ với cộng đồng, xã hội".
Cần xây dựng chương trình đào tạo phù hợp, vừa đảm bảo kiến thức và kỹ năng chuyên môn, vừa đảm bảo những kỹ năng hành nghề, kỹ năng mềm (soft skill), lòng yêu nghề và đạo đức nghề nghiệp.
Tuy nhiên, trong các môn học của chương trình khung này, những nội dung đó chỉ có thể hy vọng đáp ứng ở một số môn học như: Chính trị - 90 giờ; Pháp luật - 30 giờ; Thực tập sản xuất (mã MD26) - 240 giờ; Thực tập sản xuất (mã MD31) - 360 giờ; trong tổng số 3.165 giờ học. Với bằng tốt nghiệp trung cấp nghề "Lập trình máy tính" theo quyết định trên, những yêu cầu về nghề nghiệp cũng được hy vọng vào các môn chính trị, pháp luật... với thời gian ít hơn: chính trị 30 giờ, pháp luật 15 giờ. Nhưng những môn học như chính trị, nếu dạy như từ trước tới nay thì khó có nội dung đáp ứng những yêu cầu về nghề nghiệp. Chương trình khung một số chuyên ngành thuộc CNTT của các trường ĐH đã đăng trên trang cũng chưa có chương trình nào có môn học về nghề nghiệp CNTT.

Trong khi đó, chương trình đào tạo CNTT ở nhiều nước đều có những học phần về nghề nghiệp CNTT. Chẳng hạn, theo chương trình của ACM thì chuyên ngành ứng dụng CNTT có 13 học phần, trong đó có một số học phần như: Cơ sở của CNTT (Information Technology Fundamentals - ITF) có khung 23 giờ (ngoài giờ lý thuyết còn có giờ thực hành, giờ tự học); Quản trị thông tin (Information Management-IM) có 34 giờ; Toán học và thống kê cho CNTT (Mathematic and Statistics for IT-MS) có 38 giờ; Mạng (Networking - NET) có 22 giờ; Hệ thống web và công nghệ (Web Systems and Technologies - WS) có 21 giờ; Xã hội và nghề nghiệp CNTT (Social and Professional Issues - SP) có 23 khung giờ. Học phần này đề cập những vấn đề: luật (CNTT), nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp, sở hữu trí tuệ, lịch sử CNTT... Những chuyên ngành khác như SE, CS, IS, CE cũng đều có học phần về nghề nghiệp này.

Học gì, và học thế nào?
Học phần nghề nghiệp CNTT ở nước ta, chẳng hạn ở bậc đại học, nên có những môn học nào? Chúng tôi đề xuất một số nội dung:

1. Nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp CNTT: Triết lý về nghề nghiệp. Mô tả nghề nghiệp, chức danh nghề nghiệp, đặc trưng nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp.
2. Lịch sử phát triển CNTT: Lịch sử phát triển chung trên thế giới, lịch sử phát triển ở nước ta, lịch sử phát triển Internet...
3. Những chính sách, chủ trương cơ bản của Nhà Nước về CNTT.
4. Luật CNTT, luật giao dịch điện tử, luật sở hữu trí tuệ...
5. Giao tiếp và quan hệ đồng nghiệp trong môi trường làm việc. Khả năng thu hút đồng nghiệp, người cộng tác.
6. Kỹ năng trình bày bằng lời, bằng văn bản.

Trong chương trình đào tạo bậc đại học hiện nay có nhiều môn học thuộc nhóm kiến thức cơ sở bắt buộc, chiếm một thời lượng khá lớn, đặc biệt là các môn xã hội. Do phương pháp giảng dạy những môn này lạc hậu, không thu hút được sinh viên, dẫn đến tâm lý chán nản, học một cách đối phó. Tâm lý đó rất có thể lây lan khi sinh viên tiếp xúc với học phần nghề nghiệp CNTT. Cần có cách thiết kế nội dung môn học nghề nghiệp CNTT vừa có lý luận vừa có vận dụng thực tiễn, tăng thời lượng học theo tình huống, tổ chức thực tập ở các DN CNTT và ở các cơ sở ứng dụng CNTT... Nói tóm lại, phải có cách học khác, không thể chỉ lên lớp nghe giảng, ghi chép, về nhà học bài để thi!

 NGUYỄN LÃM
(Nguồn: PCWorld Vietnam)

Trống rỗng

Đã bao giờ bạn rơi vào trạng thái này? Ắc hẳn cũng có ít nhiều lần, một cảm giác thật lạ. Khi ấy ta như bị đóng băng không là hoàn toàn, vì vẫn có thể cử động, vẫn có thể thở, vẫn có thể quan sát mọi vật chung quanh, nhưng chỉ có suy nghĩ là bất động… Vào mỗi lúc ấy, ta dường như cảm thấy lạnh lẽo, một hơi lạnh từ đâu tới rồi lan vào người.  Và sau đó là se người lại, cảm giác chỉ còn mình ta. Mọi thứ xung quanh lúc ấy như trái tim, khối óc,.. có thể hoạt động bình thường, nhưng dường như chỉ có thông số của suy nghĩ thì dừng lại ở mức 0. Thật nguy hiểm, vì nếu một yếu tố bên ngoài nào tiếp cận với “nguồn suy nghĩ” trong ta lúc này, ta sẽ trở nên yếu đuối dần đi. Nên thường khi ấy, ta chọn một nơi thích hợp chỉ có một mình để ẩn nấu trong trạng thái này, đấy là trống rỗng.

Cảm giác trống rỗng thật kì lạ, khi ấy ta thường nhìn chằm chằm vào một điểm cố định, nhưng bản thân đôi khi không rõ đấy là gì, vì suy nghĩ lúc ấy tạm đóng băng để có thể phân tích ra những thứ trước mắt mình. Trạng thái ấy cứ như vậy tồn tại vài giây, vài phút, hoặc thậm chí là vài tiếng đồng hồ sau đấy, khi trống rỗng bị phá vỡ, mọi cảm xúc như chợt trào ra, tuôn ra đột ngột không sao ngăn lại nổi… Và dường như suy nghĩ mượn giọt nước mắt để lọc lại mọi thứ, để sự ưu phiền lắng đọng tại trái tim hoặc tâm hồn. Khó chịu thật, nhưng vẫn nhẹ nhàng hơn là cảm giác mang một sự hỗn độn vào người, mọi thứ trong ta lúc ấy như quay cuồng vô định.

Khi trống rỗng, bạn không muốn làm gì cả, không muốn ai nhìn thấy cả,… và bạn thu mình vào đâu đấy, nơi mà chỉ có bạn đối diện với trạng thái này, nơi không đủ ánh sáng để bạn nhìn rõ sự việc. Nhưng trống rỗng cũng là một khoảng lặng, vì khi ấy mọi suy nghĩ đã tạm dừng lại, bạn sẽ cảm thấy nhẹ nhõm hơn, có thể nó được ghì chặt bởi một thứ gì đấy, đến khi không còn kìm nén được, nó sẽ bùng nổ và thật tế không thoát ra được. Những điều ghìm nén ấy, lúc này sẽ như chạy qua lại để bạn sàng lọc lấy những gì nên giữ lại để ra một quyết định cho nguyên nhân. Và đôi khi sự phát nổ này làm cho bạn đau, đau tê tái hay là cảm giác đau dần theo mức độ từ thấp nhất và lớn dần lên. Thật tệ khi phải đối diện với thực tại lúc này đây. Sau mỗi giây phút này, suy nghĩ bắt đầu trở lại và có thể tích cực hoặc tiêu cực hoặc chỉ là một quyết định tạm thời không mang đến lợi hay hại.

Đôi khi nỗi đau khiến bạn tê tái, và lạnh buốt, khi ấy trái tim bạn đang bị rỉ máu. Hãy xoa dịu nó tạm thời bằng những khoảng lặng, đấy sẽ là những liều thuốc giảm đau tạm thời, tạm thời cho cái vết thương kia và tạm thời giữ ấm cho trái tim nhỏ bé này.

Thật ra, nếu trong trạng thái trống rỗng, không hẳn rằng bạn sẽ cảm thấy hết mọi thứ trong khoảng khắc ấy, chỉ khi nào nó thật sự bùng nổ, khi mà vật vô hình nào đấy không còn đủ sức ghìm chặt nỗi đau của bạn nữa, lúc ấy bạn sẽ hiểu rõ hơn về sự trống rỗng quanh mình. Không ai muốn mãi đối diện với nỗi cô đơn cả, một sự che chở ấm áp sẽ khiến vết thương lành dần. Hi vọng rằng mọi nỗi đau sẽ tìm thấy liều thuốc (quyết định) để chữa lành dần cho tâm hồn, cũng như trái tim ta.

Nhưng trống rỗng không phải khi chìm vào những nỗi đau hỗn độn ta mới gặp phải. Một sự trống trãi cũng mang đến khoảng không trống rỗng...

(Nguồn: Lượm từ internet trong lúc TRỐNG RỖNG).